Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

chẩn đoán chính xác gan nhiễm mỡ


Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ (chủ yếu là triglycerides) tích tụ trong gan hơn 5% trọng lượng gan. Triệu chứng thường thấy là chứng gan to kín đáo, gia tăng vừa phải các men gan và phosphatase kiềm.
Nếu chia theo tổn thương giải phẫu bệnh (có liên quan đến độ nặng và khả năng hồi phục) thì có ba nhóm: gan nhiễm mỡ đơn thuần, viêm gan do thoái hóa mỡ và xơ gan. Nếu phân theo nguyên nhân thì gan nhiễm mỡ có thể chia làm hai nhóm chính: do rượu (AFLD) và không do rượu (NAFLD). Nhóm không do rượu là một nhóm rất lớn và có nhiều nguyên nhân khác nhau.
Trên thực tế phần lớn trường hợp gan nhiem mo được ghi nhận hiện nay là hậu quả của lối sống lười vận động, ăn nhiều chất béo và đường, uống nhiều rượu bia.
Siêu âm, chính xác cỡ nào?
Chẩn đoán chính xác nhất là dựa vào kết quả giải phẫu bệnh sau khi sinh thiết. Tuy nhiên, ít ai muốn làm sinh thiết gan chỉ vì gan nhiễm mỡ đơn thuần. Do đó, chẩn đoán gan nhiễm mỡ chủ yếu dựa vào siêu âm. Chẩn đoán hay phân độ gan nhiễm mỡ hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào con mắt của bác sĩ làm siêu âm và có tính chủ quan rất cao. Vì thế có khá nhiều trường hợp chẩn đoán nhầm hay quá lố do bác sĩ siêu âm thiếu kinh nghiệm hoặc việc cài đặt máy siêu âm không chính xác gây ra.
Siêu âm được ưa chuộng vì chi phí thấp và an toàn, đồng thời có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao trong việc phát hiện bệnh gan nhiễm mỡ. Tuy nhiên, có một số chi tiết cần cân nhắc:
- Siêu âm chẩn đoán gan nhiễm mỡ kém chính xác nếu bệnh nhân bị béo phì do sự cản âm của lớp mỡ dày dưới da.
- Siêu âm chẩn đoán gan nhiễm mỡ kém chính xác nếu bệnh nhân có bệnh gan mãn tính khác, đặc biệt là viêm gan.
- Siêu âm không phân biệt được gan nhiễm mỡ đơn thuần hay có viêm gan do thoái hóa mỡ (NASH: Non alcoholic steatohepatitis).
Hiện tượng “giả u”
Nói chung, gan nhiễm mỡ là một bệnh nhẹ và diễn tiến lành tính. Tuy nhiên, vài trường hợp đặc biệt có thể gây hoảng sợ cho cả bệnh nhân lẫn bác sĩ dieu tri gan nhiem mo. Đó là các trường hợp gan nhiễm mỡ “giả u”. Đây là một nhóm bệnh đặc biệt trong đó tình trạng nhiễm mỡ chỉ xảy ra không hoàn toàn. Sự khác biệt về độ sáng giữa vùng gan bình thường và vùng gan nhiễm mỡ tạo hình ảnh giả khối u chỉ có thể phân biệt nếu bác sĩ siêu âm có nhiều kinh nghiệm hoặc phải làm thêm CT hay MRI.
• Có thể phần lớn gan bị nhiễm mỡ và chỉ có vài chỗ là bình thường (Focal sparing). Vùng bình thường hay nằm xung quanh túi mật, quanh rốn gan tối (đen) hơn xung quanh.
• Có thể phần lớn gan bình thường và chỉ vài chỗ là bị nhiễm mỡ (Focal steatosis). Vùng nhiễm mỡ thường ở ngoại vi gan, có giới hạn rất rõ, giống như đường biên trên bản đồ, sáng (trắng) hơn xung quanh.
Nếu rơi vào trường hợp này, bạn có thể làm thêm một số xét nghiệm về chức năng gan, dấu ấn ung thư và các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác để có thể hoàn toàn an tâm về sức khỏe của mình. Việc điều trị hiệu quả có thể dần xóa đi hình ảnh giả u này.
Nếu tình cờ đi kiểm tra sức khỏe và được cho biết bị gan nhiễm mỡ, bạn sẽ làm gì?
* Việc đầu tiên: bạn không nên lo lắng hoảng sợ mà nên kiểm tra lại ý kiến người thứ hai. Đó có thể là một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh khác để có được ý kiến khách quan và độc lập. Nếu có điều kiện, CT hay MRI đều có thể giúp khẳng định tình trạng gan không nhiễm mỡ với độ chính xác bằng hoặc cao hơn cả siêu âm. Sinh thiết gan không cần thiết vì lợi bất cập hại.
* Nếu kiểm tra lại vẫn nghĩ đến gan nhiễm mỡ, bạn cũng không cần phải lo lắng vì như đã nói, gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng, diễn tiến lành tính và ít khi đưa đến biến chứng. Để chắc chắn không bị tình trạng viêm gan mỡ, cần xét nghiệm các men gan. Nếu men gan không cao hoặc chỉ tăng nhẹ, tình trạng tổn thương gan không đáng kể và thường không cần điều trị đặc hiệu về gan. Ngược lại, men gan tăng cao là dấu hiệu báo động có viêm gan và có khả năng đưa đến các di chứng nặng hơn về sau.
* Trong đa số trường hợp, gan nhiễm mỡ không phải là vấn đề chính mà câu hỏi cần tìm ra lời giải là nguyên nhân dẫn đến gan nhiễm mỡ. Việc xác định được nguyên nhân đồng nghĩa với xác định được phác đồ điều trị đúng nhất cho mỗi người bệnh. Đó có thể là việc thay đổi chế độ ăn, chế độ sinh hoạt, tập luyện, việc kiểm soát đường máu hay mỡ máu… Khi nguyên nhân sinh bệnh được loại trừ, tình trạng gan nhiễm mỡ sẽ tự cải thiện.

Xem: bệnh viêm gan| benh viem gan A| viêm gan siêu vi| viêm gan siêu vi C| điều trị viêm gan| benh gan sieu vi B| cách điều trị viêm gan B

Duy trì lối sống lành mạnhd đẩy lùi gan nhiễm mỡ


Không có điều trị y khoa cụ thể là cần thiết cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ có cồn. Tiết dục và chế độ ăn uống đầy đủ là yếu tố mấu chốt của việc điều trị. Không có điều trị bằng thuốc được chỉ định cho các bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ có cồn trừ khi bệnh nhân có viêm gan do rượu. .
Giảm cân và kiểm soát các bệnh đi kèm xuất hiện :
Để làm chậm tiến triển của bệnh gan nhiễm mỡ (bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không cồn) và có thể đảo ngược một số gan nhiễm mỡ và xơ hóa. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, cải thiện sinh thiết gan đã được nhìn thấy sau khi giảm cân 7% do thay đổi lối sống (cải thiện chế độ ăn uống, tập thể dục, và thay đổi hành vi.Không có điều trị được thành lập là có sẵn cho viêm gan nhiễm mỡ không cồn (NASH).
Mặc dù không có thuốc điều trị đã được chứng minh là có sẵn, một nghiên cứu của Foster và cộng sự tìm thấy rằng mg atorvastatin 20, kết hợp với vitamin C và E, có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ gan nhiễm mỡ ở người khỏe mạnh với bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu sau 4 năm điều trị tích cực.
Năm 2012 thực hành hướng dẫn từ Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD), College of Gastroenterology (ACG) Hoa Kỳ, và Hiệp hội Gastroenterological Mỹ (AGA) thực hiện các khuyến nghị sau đây có liên quan đến điều trị bệnh gan nhiem mo không do rượu :
Giảm cân nói chung làm giảm gan nhiễm mỡ, nhưng lên đến 10% giảm cân có thể cần thiết để cải thiện viêm hoại tử
Bệnh nhân có bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không nên tiêu thụ một lượng nặng nề của rượu
Vitamin E 800 IU / ngày cải thiện mô học gan ở người lớn không bị tiểu đường với sinh thiết đã được chứng minh NASH, do đó nó nên được xem xét như là một dược dòng đầu tiên cho số bệnh nhân này, nhưng không phải ở những bệnh nhân khác, chờ thêm bằng chứng hỗ trợ hiệu quả của nó
Omega-3 axit béo có thể được xem xét như dòng đầu tiên trong dieu tri gan nhiem mo tăng triglyceride máu ở những bệnh nhân với bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, nhưng nó là quá sớm để đề nghị cho điều trị cụ thể của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu hoặc NASH
Metformin không được khuyến cáo như là một điều trị cụ thể cho bệnh gan ở người lớn bị NASH
Pioglitazone có thể được sử dụng để điều trị viêm gan nhiễm mỡ ở những bệnh nhân với sinh thiết đã được chứng minh NASH, nhưng an toàn lâu dài và hiệu quả chưa được thành lập
Không chống chỉ định ở Foregut phẫu thuật bariatric nếu không đủ điều kiện cá nhân béo phì có bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu hoặc NASH nhưng mà không có xơ gan thành lập, tuy nhiên, nó là quá sớm để xem xét phẫu thuật bariatric foregut như một lựa chọn thành lập để điều trị NASH đặc biệt
Statins có thể được sử dụng để điều trị rối loạn lipid máu ở những bệnh nhân với bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và NASH, nhưng họ không nên được sử dụng đặc biệt để điều trị NASH, chờ bằng chứng từ các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên

Xem thêm: bệnh viêm gan| benh viem gan A| viêm gan siêu vi C| viêm gan siêu vi| điều trị viêm gan| benh gan sieu vi B

Gặp họa vì bị gan nhiễm mỡ


Gan nhiễm mỡ là sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan do nhiều nguyên nhân gây ra. Bệnh gây viêm gan, xơ gan, sẹo trong gan. Điều quan trọng là bệnh có thể phòng tránh được bằng cách loại bỏ các nguyên nhân gây bệnh và thực hiện một lối sống lành mạnh.

gan nhiễm mỡ

 Những “con đường” dẫn đến nhiễm mỡ gan
Tình trạng lượng mỡ tích tụ trong gan lớn hơn 5% trọng lượng gan được gọi là gan nhiễm mỡ hay thoái hóa mỡ gan. Có nhiều “con đường” dẫn đến nhiễm mỡ gan, bởi vậy, bạn cần biết để chặn đường những kẻ làm hư hại gan của bạn. Thứ nhất là sự thừa cân, béo phì. Nếu bạn có khả năng ăn không biết chán thì kết quả tất yếu là bạn sẽ béo tốt đến mức thừa cân. Khi đó, gan của bạn sẽ chuyển một phần năng lượng thừa đó sang tích lũy dưới dạng mỡ đọng lại ở gan.
Thứ hai là bạn mắc bệnh tiểu đường týp 2. Bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường phải dùng insulin để điều trị.Nghiên cứu của các nhà chuyên môn cho thấy khi cơ thể có biểu hiện kháng lại tác dụng của insulin hay tuyến tuỵ không tiết đủ insulin để duy trì nồng độ đường huyết bình thường thì nhiều cơ quan sẽ bị tổn thương, trong đó có gan. Cứ 4 người mắc bệnh tiểu đường thì có 3 người bị bệnh gan nhiễm mỡ.
 Thứ ba là nghiện rượu: khi bạn uống nhiều rượu thì lượng rượu đó gây nên hậu quả là tăng tổng hợp và giảm phân giải acid béo trong gan.
Sự rối loạn chức năng gan kết hợp với ứ đọng chất béo đã làm tăng phóng thích lipoprotein, tạo ra nồng độ lipid máu cao và gia tăng mỡ ứ đọng trong gan. Ở người nghiện rượu, gan vừa bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, vừa kèm theo tình trạng viêm gan làm cho nhu mô gan bị sẹo hoặc xơ. Thứ tư là gan nhiễm mỡ do giảm cân quá nhanh hoặc suy dinh dưỡng thiếu protein. Nếu một người ở trong tình trạng đói lâu ngày do ăn kiêng quá mức, lượng đường trong máu thấp khiến cơ thể phải tăng phân giải mỡ để cung cấp năng lượng cho các hoạt động.
Việc phân giải nhiều mỡ dẫn đến lượng acid béo đi vào trong máu nhiều và sẽ tích trữ mỡ trong gan. Trường hợp suy dinh dưỡng thiếu protein làm cho triglycerid trong gan không chuyển được thành lipoprotein để chuyển ra ngoài, gây lắng đọng tại gan. Ngoài ra còn có các nguyên nhân làm cho gan nhiễm mỡ là bệnh Wilson, dùng các thuốc gây độc cho gan như corticosteroid, tetracycline liều cao, oestrogen…
Ngăn chặn những “kẻ” làm hại gan
Để ngăn chặn tình trạng gan nhiem mo, chúng ta chia làm hai trường hợp: gan đã bị nhiễm mỡ và gan chưa bị nhiễm mỡ. Nếu gan của bạn đã bị nhiễm mỡ thì việc ngăn chặn chủ yếu là điều trị các nguyên nhân gây bệnh vì gan nhiễm mỡ hầu như không phải là bệnh của gan mà chỉ là tình trạng tích lũy mỡ quá nhiều tại gan mà thôi. Do đó, bạn  có thể áp dụng một hay nhiều biện pháp như sau: thực hiện chế độ ăn hợp lý và chế độ tập luyện để giảm cân nếu bạn bị thừa cân, béo phì.
Nếu bệnh liên quan đến uống rượu thì bạn phải kiên quyết bỏ rượu. Trường hợp do ngộ độc thuốc dieu tri gan nhiem mo thì bạn phải tham khảo ý kiến của bác sĩ để ngưng ngay những thuốc làm cho gan nhiễm mỡ và thay thế bằng những thuốc an toàn. Đối với bệnh nhân bị tiểu đường, cần khống chế lượng đường trong máu luôn ở mức độ bình thường. Bệnh nhân bị viêm gan siêu vi phải điều trị tích cực để kiểm soát tình trạng viêm và diễn tiến dẫn đến xơ gan.
Nếu gan của bạn chưa bị nhiễm mỡ, bạn cần thực hiện một lối sống lành mạnh như: ăn uống hợp lý, hạn chế năng lượng dư thừa; không ăn các loại thức ăn chứa nhiều cholesterol như phủ tạng động vật (gan tim, bầu dục…), lòng đỏ trứng…; nên ăn dầu thực vật, hạn chế mỡ động vật; ăn chất đạm vừa phải; nên ăn các loại thức ăn có tác dụng giảm mỡ như: đậu nành và các loại đậu khác, cà chua chín, rau các loại: cần tây, diếp cá, cải xanh, cải cúc, rau ngót, rau muống, tỏi, nấm hương và các loại trái cây như cam, chanh, quýt, bưởi, táo, bổ sung vitamin nhóm B, uống nước chè xanh…; bỏ hẳn rượu, bia.
Bạn cũng cần tăng cường vận động, tập thể dục thường xuyên phù hợp với sức khỏe. Nên khám kiểm tra đường huyết, cholesterol và triglycerid máu định kỳ 6 tháng/lần để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh gây nhiễm mỡ gan.
Cách nhận biết gan bị nhiễm mỡ
Nếu bạn mới bị gan nhiễm mỡ thì hầu như bạn không thấy có biểu hiện gì vì tình trạng lắng đọng mỡ tại gan xảy ra từ từ nên các dấu hiệu của nó cũng khó cảm thấy. Nhưng đến giai đoạn tốc độ lắng đọng mỡ trong gan xảy ra nhanh, làm cho gan to ra nhanh, bao gan căng ra làm cho bạn có cảm giác đau tức hoặc nặng vùng gan.
Khi đó, phải tinh ý bạn mới biết mình bị bệnh gan nhiễm mỡ. Đến giai đoạn này, có ít bệnh nhân thấy vàng da, buồn nôn và nôn. Trường hợp bệnh nặng có sa sút cơ thể với các dấu hiệu suy gan. Sờ thấy gan to đều, mềm hoặc rắn chắc. Ở người béo phì và đái tháo đường, gan chỉ hơi to, thấy bụng trướng và đau.
Tình trạng bệnh gan nhiễm mỡ trở nặng như nhiễm virut cấp ở người đái tháo đường, triệu chứng bao gồm: đau dưới bờ sườn phải, vàng da, tăng các men gan do ứ mật, rối loạn thời gian đông máu và cuối cùng là triệu chứng suy gan. Bệnh nhân cần làm các xét nghiệm như siêu âm, chụp cắt lớp giúp chẩn đoán được gan nhiễm mỡ. Xét nghiệm máu thấy cholesterol, triglyceride máu, các men gan tăng cao có giá trị phát hiện gan nhiễm mỡ.

Xem thêm: viêm gan siêu vi C| benh viem gan A| điều trị viêm gan| benh gan sieu vi B| cách điều trị viêm gan B| viêm gan B

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Các yếu tố gây nên ung thư gan

Người châu Á có nguy cơ mắc ung thư gan cao nhất thế giới, đặc biệt là những người trong độ tuổi 30 - 40 nhiễm virus viên gan B mãn tính. Các trường hợp khác làm tổn thương đến gan như uống bia rượu cũng dễ dẫn đến ung thư gan. Dưới đây là một số yếu tố có nguy cơ gây ung thư gan mà bạn cần phải đề phòng.
Nhiễm viêm gan B
Bệnh gan B có thể bị lây qua rất nhiều đường khác nhau như: tiếp xúc với bệnh nhân bị viêm gan B, dùng chung kim tiêm, sử dụng các chế phẩm máu hoặc truyền máu từ người nhiễm siêu vi B, truyền từ mẹ sang con, lây truyền qua đường tình dục...
Đã có rất nhiều bằng chứng từ các nhà khoa học chứng minh được rằng virus viêm gan siêu vi B ở những người bị viêm gan B mãn tính có khả năng phát triển thành ung thư gan rất cao. Bằng chứng thuyết phục nhất là nghiên cứu được thực hiện trong những năm 1970 ở Đài Loan trên những người đàn ông ngoài 40 tuổi đã cho kết luận rằng: người mắc virus viêm gan B mãn tính có nguy cơ phát triển thành ung thư gan cao gấp 200 lần những người bình thường không nhiễm virus viêm gan B.
Vậy, virus viêm gan B gây ung thư gan như thế nào? Ở những bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mãn tính và ung thư gan, vật liệu di truyền của virus viêm gan B thường được tìm thấy trong vật liệu di truyền của các tế bào ung thư. Vật liệu di truyền virus viêm gan B này có thể phá vỡ các vật liệu di truyền trong các tế bào gan bình thường, gây ra tổn thương cho các tế bào gan sau đó dần sẽ phát triển thành ung thư.
Tuy nhiên, không phải ai nhiễm virus viên gan B đều phát triển thành ung thư gan. Chỉ một số những người mắc bệnh sớm và phát triển thành viêm gan B mãn tính mới dễ mắc.
Vius viêm gan C
Virus bệnh viêm gan C (HCV) khó lây hơn virus viêm gan B nhưng nó cũng rất dễ gây ra ung thư gan. Viêm gan C chỉ lây khi có sự tiếp xúc trực tiếp với máu của người bị nhiễm bệnh, hoặc dùng chung kim tiêm với người có bệnh.
Ở Nhật Bản, virus viêm gan C gây ung thư gan ở 75% số người mắc bệnh. Phần lớn các bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C sẽ phát triển thành xơ gan, sau đó là ung thư gan. Thời gian trung bình của người mắc viêm gan C phát triển thành ung thư gan là khoảng 28 năm. Sau 8 – 10 năm mắc xơ gan, bệnh cũng có nguy cơ chuyển thành ung thư gan.
Cách thức mà virus viêm gan C gây ra ung thư gan chưa được chứng minh rõ ràng. Song cũng có ý kiến cho rằng, virus viêm gan C gây ra bệnh xơ gan - nguyên nhân gián tiếp của ung thư gan hoặc do protein trong lõi của virus viêm gan C cản trở các chất ức chế khối u khiến các tế bào độc hại được sản sinh gây nên bệnh.
Rượu
Xơ gan mãn tính do uống rượu là nguyên nhân phổ biến nhất của ung thư gan ở các nước đang phát triển. Những người nghiện rượu có nguy cơ mắc ung thư gan cao và thời gian sống của họ thường bị rút ngắn 10 năm so với những người khác. Ngoài ra, những người nghiện rượu có thể thể chết bởi nhiều nguyên nhân khác do rượu gây ra kể cả khi anh ta chưa mắc phải ung thư gan.
Aflatoxin B1
Aflatoxin B1 là một chất gây ung thư gan mạnh nhất mà ta từng được biết. Nó là sản phẩm của một loại nấm gọi là Aspergillus flavus, được tìm thấy ở những loại thực phẩm được cất giữ trong môi trường nóng và ẩm như: lúa, lạc, đậu tương, ngô, và lúa mì. Aflatoxin B1 can thiệp vào các gen quan trọng ức chế khối u (ức Bệnh tiểu đường và béo phì
Trong thời gian qua, tỷ lệ mắc ung thư gan trên thế giới đã tăng lên đáng kể, song song với sự gia tăng bệnh béo phì và tiểu đường. Béo phì làm tích tụ mỡ trong gan gây nên chứng gan nhiễm mỡ dần dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Tiểu đường khiến người bệnh có nguy cơ mắc ung thư gan cao gấp 3 lần người bình thường. Virus viêm gan C có thể tương tác với bệnh tiểu đường và làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan của người bệnh.
Hãy cảnh giác với các tác nhân gây bệnh và virus viên gan. Phòng ngừa bệnh từ sớm sẽ giúp bạn và người thân tránh được nguy cơ mắc ung thư gan.

Hậu quả của bệnh viêm gan mạn

Bệnh viêm gan mạn thường là hậu quả của viêm gan cấp, tuy nhiên ở nhiều trường hợp bệnh tiến triển âm thầm và chỉ thể hiện ở giai đoạn mạn tính mà thôi.
Tiến triển của viêm gan mạn có thể khỏi nhưng những trường hợp nặng thường dẫn tới xơ gan và ung thư tế bào gan ( đặc biệt là viêm gan mạn hoạt động do các virut viêm gan B, C ).
Nguyên nhân gây ra viêm gan mạn
Có nhiều nhưng 3 loại chính được công nhận là :
- Bệnh gan mạn do virut,
- Viêm gan mạn do thuốc
- Viêm gan mạn do tự miễn.
Có viêm gan mạn không rõ nguyên nhân
Dấu hiệu lâm sàng và một số thuốc điều trị
1. Viêm gan mạn do thuốc và nhiễm độc
Là những tổn thương viêm gan do nhiễm độc hoặc do dị ứng, hoặc kết hợp cả hai bởi các thuốc, các độc tố trong tự nhiên và công nghiệp ( hoá chất ). tổn thương gan do thuốc và chất độc có thể từ nhẹ đến nặng và thậm chí là hoại tử gan lan tràn. Thuốc và chất độc có thể gây ra viêm gan ( VG ) cấp, viêm gan mạn ( VGM ), xơ gan và ung thư tế bào gan.
Nguyên tắc điều trị viêm gan:
+ Ngừng thuốc hoặc cách ly với chất độc,
+ Tăng thải trừ chất độc khỏi cơ thể: truyền glucose thải độc, dùng thảo dược lợi liệu như : mã đề, râu ngô, vọng cách…
+ Bảo vệ tế bào gan: các thảo dược đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ tế bào gan :Diệp hạ châu đắng hay là cây chó đẻ răng cưa ( tên khoa học : Phyllantus amarus schum ), cây cà gai leo ( Solanum hainanese ).
Bệnh sẽ tự khỏi khi chất độc được thải trừ hết.
2. Viêm gan mạn do virut
Hầu như chỉ có virut viêm gan siêu vi B, C và D mới gây viêm gan mạn
* Viêm gan mạn B
Khả năng xuất hiện viêm gạn mạn B sau khi nhiễm virut viêm gan B thay đổi theo lứa tuổi. Trẻ nhiễm virut viêm gan B sau đẻ thường không có biểu hiện triệu chứng nhưng 90% sẽ trở thành người mang virut mạn tính. Trẻ lớn và những người lớn khi nhiễm virut viêm gan B lại thường có biểu hiện lâm sàng rõ rệt của viêm gan cấp nhưng nguy cơ thành mạn chỉ khoảng 1%. Tuy vậy, viêm gan mạn B có thể xuất hiện ở bệnh nhân chứa có viêm gan B cấp.
- Mức độ của viêm gan mạn B : rât khác nhau từ nhẹ đến nặng. Đánh giá mức độ của viêm gan mạn B ta căn cứ vào mô bệnh học, nhưng quan trọng hơn là dựa vào mức độ nhân lên của virut viem gan sieu vi B ( HBV ). Trong giai đoạn nhân lên mạnh của HBV các men HBeAg + , HBV – DNA +, HBcAg+ tăng mạnh
trong tế bào gan thì mức độ bệnh nặng hơn. Ngược lại trong giai đoạn không nhân lên của HBV ( HBeAg - , anti – HBe + , HBcAg – trong tế bào gan ) thì viêm gan mạn B nhẹ hoặc chỉ là mang HBV không triệu chứng.
- Tiến triển : nhiễm HBV mạn, đặc biệt là mắc từ khi sinh sẽ tăng nguy cơ dẫn đến ung thư tế bào gan. Viêm gan mạn B hoạt động thì nhiều khả năng tiến triển đến xơ gan và ung thư tế bào gan.
* Viêm gan mạn D ( viêm gan mạn do virut Delta )
Kể cả đồng nhiễm virut viêm gan D ( HDV ) với virut viêm gan B ( HBV ) hoặc bội nhiễm HDV trên bệnh nhân HBV đều có thể dẫn tới viêm gan mạn. Nhưng khi đồng nhiễm thường làm nặng thêm viêm gan cấp và dễ thành viêm gan ác tính, bội nhiễm HDV trên ngươì mang HBsAg mạn tính làm tăng khả năng tiến triển thành viêm gan mạn.
- Biểu hiện lâm sàng của viêm gan mạn D hay viêm gan mạn B không phân biệt được hay nói khác đi là viêm gan mạn D cũng có biểu hiện lâm sàng như viêm gan mạn B.
- Đặc điểm huyết thanh học của viêm gan mạn D là có sự hiện diện của kháng thể anti – LKM ( Liver Kidney Microsomes – kháng thể kháng Microsome của gan, thận ) lưu hành trong máu. Ở bệnh nhân viêm gan mạn D có anti – LKM-3, khác với anti – LKM-1 có ở bệnh nhân viêm gan mạn tự miễn và viêm gan mạn C.
* Viêm gan siêu vi C mạn
Là viêm gan mạn tiến triển thầm lặng, nhiều trường hợp không hề có triệu chứng và ngay cả men Transaminase cũng bình thường. Chẩn đoán những trường hợp này chủ yếu dựa vào sinh thiết gan.
- Biểu hiện lâm sàng : viêm gan mạn C cũng giống như viêm gan mạn B nhưng nói chung triệu chứng mờ nhạt hơn, hiếm gặp vàng da, tổn thương ngoài gan ít hơn, men Transaminase dao động và thấp hơn. Triệu chứng thường thấy là mệt mỏi, xét nghiệm huyết thanh học một số trường hợp có thể thấy sự có mặt của kháng thể anti – LKM-1 như ở bệnh nhân viêm gan tự miễn Typ 2.
- Về tiến triển : Có 50 – 70% số ca viêm gan mạn C tiến triển sau viêm gan C cấp, tiến triển tới xơ gan sau 10 năm là 20%. Khoảng 50% bệnh nhân viêm gan mạn C sẽ thành xơ gan kể cả những bệnh nhân viêm gan mạn C không có triệu chứng và không có men Transminase tăng. Nhưng đáng chú ý là những bệnh nhân nhiễm HCV – RNA với nồng độ cao và thời gian nhiễm lâu. Viêm gan mạn C tiến triển tới xơ gan và ung thư tế bào gan nhưng thường là rất chậm sau vài năm.
Nguyên tắc điều trị :
Thuốc điều trị chủ yếu là đối với viêm gan mạn thể tấn công
Những nhóm thuốc chính được sử dụng trong điều trị VGM là :
- Thuốc tác động tới tình trạng miễn dịch
+ Thuốc ức chế miễn dịch : corticoid
+ Thuốc điều biến miễn dịch : levamisol
+ Thuốc kích thích miễn dịch : Thymogen, Thymodulin ( Thymocom ).
- Thuốc kháng virut : Lamivudin, Ribavirin.
- Interferon alpha ( IFN a)
- Thuốc có nguồn gốc thực vật ( thảo dược )
+ Phyllantus ( Phyllantin...), được chiết xuất từ cây Diệp hạ châu đắng hay là cây chó đẻ răng cưa ( tên khoa học : Phyllantus amarus schum ).
+ Haima : được chiết xuất từ cây cà gai leo ( Solanum hainanese ).

bệnh viêm gan và chế độ dinh dưỡng

Gan là một tạng lớn và qua trọng của cơ thể, thực hiện nhiều chức năng thiết yếu cho cuộc sống – tham gia quá trình điều hoà đường máu và chống độc, tiết ra mật để tiêu hóa thức ăn và đồng thời là dự trữ các vitamin. Bệnh viêm gan là tình trạng tổn thương các tế bào gan, thường có các biểu hiện rối loạn tiêu hóa, nôn, mệt mỏi, chán ăn, vàng da, tiểu sẫm màu. Trong việc điều trị các bệnh lý về gan, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò cực kì quan trọng tiến triển của bệnh.
Nguyên nhân thường gặp là do vi rút, do rượu, hoặc do một số thuốc và hóa chất. Chế độ ăn hợp lý khi bị viêm gan giúp nương nhẹ chức năng gan, tạo điều kiện để tái tạo tổ chức gan, ngăn ngừa sự hủy hoại thêm các tế bào gan.

bệnh viêm gan

Chế độ ăn trong giai đoạn bệnh gan cấp tính:
- Khi bị viêm gan cấp tính, các rối loạn về chuyển hóa xảy ra do tế bào gan bị hoại tử, vì vậy, chế độ ăn uống và nghỉ ngơi đóng vai trò rất quan trọng.
- Sau những ngày đầu phải nuôi bằng tĩnh mạch rồi nuôi bằng ống.
- Khi đã bắt đầu ăn được, ăn theo chế đọ ăn lỏng, rồi đặc dần cho đến khi trở lại bình thường.
- Các loại thức ăn cho người bệnh trong giai đoạn này là những loại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu như: ngũ cốc, đường, mật ong hay hoa quả ngọt. Với chất đạm, nên chọn loại có giá trị dinh dưỡng cao nhưng ít chất béo như lòng trắng chứng, sữa không béo, cá nạc, với lượng khoảng 50 – 70 g/ngày.
- Nếu bị sút cân nhiều và có cả những triệu chứng suy dinh dưỡng, tăng lượng protein dưới dạng thức ăn động vật lên tới 100g/ngày. Ăn bột đường để tăng lượng calo.
- Nếu có vàng da, tắc mật thì không nên ăn dầu mỡ vì không hấp thu được và sẽ đi phân mỡ. Lúc này, chế độ ăn cần giảm cung cấp chất béo, chỉ sử dụng khoảng 15gram/ngày. Tuyệt đối không ăn các loại thức ăn có nhiều cholesterol như óc, tim, gan, lòng heo, long đẻ trứng…
- Nếu có biểu hiện suy gan thì càng phải giảm lượng đạm xướng dưới 40gr/ngày kiêng đạm động vật, vì đạm động vật có nhiều acid amin mà gan chuyển hóa thành amoniac và ure không còn được gan đào thải mà tích tụ trong gan dẫn đến hôn mê gan. Đạm động vật cũng chứa nhiều hemoglobin, là những chất có cấu trúc vòng, bắt gan phải hoạt động nhiều.
- Nên ăn nhẹ và nhiều hơn vào buổi sáng vì một số nghiên cứu cho thấy, buổi sáng, cơ thể và khả năng hấp thu của gan tốt hơn so với chiều.
- Bệnh nhân viêm gan cấp cần phải ăn nhiều rau quả tươi để cung cấp chất khoáng và các vitamin cần thiết giúp cho gan hoạt động tốt hơn.
- Bên cạnh đó, trong giai đoạn viêm cấp cần có chế độ nghỉ ngơi thường xuyên, không làm việc quá sức, tránh các căng thẳng tâm lý.
Chế độ ăn trong giai đoạn viêm gan mạn tính.
- Những bệnh nhân viêm gan mãn tính, về lâu dài, hệ thống tiêu hóa sẽ yếu dần dẫn đến thiếu dinh dưỡng. Vì vậy, nên tiếp tục ăn uống bình thường, tránh ăn kiêng quá mức cần thiết, đồng thơi, để tao ra sự ngon miệng, nên thay đổi nhiều loại thức ăn khác nhau.
- Năng lượng: 1600 – 1700 Kcal/ngày ( 30 – 35 Kcal/kg cân nặng / ngày ).
- Đảm bảo đủ đạm ( Protein ) : 20% tổng năng lượng, khoảng 75 – 80 gr/ngày.
- Gan có chức năng tăng lượng Protid của huyết tương và là nơi tập trung Protid trước khi được phân bổ đi khắp cơ thể. Khi bị bệnh gan mãn tính, xơ gan, gan nhiem mo, viêm gan siêu vi C hiện tượng giảm Protid máu thường xảy ra nên việc giảm Protid ở chế độ ăn sẽ gay bất lợi.
- Protid được cung cấp nhiều sẽ giúp cơ thể nhanh phục hồi và có tác dụng chống đỡ lại bệnh tật, làm cho tế bào gan tăng trưởng và hồi phục.
- Một ngày, chỉ cần 200g cá hoặc 100g thịt nạc và ngũ cốc trong đó 50% lượng Protein do ngũ cốc và rau quả cung cấp, 50% còn lại lấy từ tôm, cá, thịt, trứng, sữa.
- Nên dùng các loại đạm có giá trị cao, ít béo như: Thịt lơn nạc, gà nạc, các nạc, dùng thịt tươi, không nên dùng thịt hộp. Mỗi ngày có thể cung cấp 75gr thịt cá.
- Glucose chiếm 70% tổng năng lượng, khoảng 300 – 320 g/ngày. Chức năng chuyển hóa glucose trong gan rất quan trọng vì nó làm cho gan phát huy được vai trò giải độc. Khi gan bị tổn thương, dự trữ glucigen giảm nên bệnh nhân phải tăng glucid trong chế độ ăn để tăng dự trữ glucogen, giảm sự xâm nhập mỡ vào gan.
- Tăng cường chất bột, đường dễ hấp thu như gạo, đường glucoza, mật ong, các loại quả ngọt.
- Giảm chất béo: 10% năng lượng ( khoảng 15 gr / ngày là đủ).
- Giảm muối, mỳ chính.
- Tăng cường các loại rau xanh và quả chín như rau ngót, rau muống, rau cải, cà rốt, cà chua, bí đỏ ……để cung cấp vitamin và khoáng chất.

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Người bị bệnh gan nên ăn uống như thế nào


Người ta ví gan như một nhà máy mà nguyên liệu chính là 3 nhóm: chất đạm, chất béo, đường... và các chất phụ gia không thể thiếu là khoáng chất. Tuy nhiên với người bệnh gan thì việc cung cấp đủ là quan trọng nhưng dư thừa là không tốt. Vì khi bị bệnh viêm gan, tức nhu mô gan bị phá hủy nhiều khiến chức năng gan bị suy yếu.
Triệu chứng: Thường gặp ở người bệnh gan là vàng da và niêm mạc mắt, buồn nôn, nôn mửa, ăn mất ngon và sụt cân, sưng gan (chướng bụng), rối loạn đông máu, to vú ở đàn ông. Tùy nguyên nhân gây bệnh gan mà phương pháp điều trị có thể là kháng sinh, phẫu thuật, bổ gan... nhưng chế độ dinh dưỡng cũng vô cùng quan trọng cho người bệnh gan. Thiếu dinh dưỡng thì gan không làm việc được nhưng dư thừa cũng không tốt vì gan yếu, khó loại thải chất dư thừa. Do vậy tốt nhất cần biết những thứ gì nên ăn và thứ gì nên tránh.
Những thứ người viêm gan nên dùng
- Protein (chất đạm): Là chất vô cùng quan trọng đối với người điều trị viêm gan. Cần bảo đảm 1g protein/kg cơ thể/ngày. Trong đó 50% lượng protein này do ngũ cốc và rau quả cung cấp nên chỉ còn 50% là lấy từ thực phẩm như cá, thịt, trứng, sữa hoặc đạm thực vật như: đậu phụ... có nghĩa một ngày chỉ cần 200g cá hoặc 100g thịt nạc, trứng và cốc sữa là đủ.
Protein từ cá và sữa bò rất tốt cho người yếu gan vì dễ tiêu hóa. Trong sữa bò tươi hoặc sữa bột pha tương ứng có khoảng 3,7% chất đạm và 3,5% chất béo. Chất béo trong sữa bò thuộc loại khó tiêu hóa nên người ta thường khuyên người yếu gan không nên uống nhiều sữa chứ không phải là kiêng sữa (mỗi ngày nên uống 1 cốc).
- Chất béo: Người bệnh gan cần giảm các chất béo, kiêng ăn các món rán, chứ không phải kiêng hẳn chất béo. Một nghiên cứu cho thấy: ăn nhiều chất béo cùng với giảm protein và bột đường làm gia tăng quá trình xơ gan ở người viêm gan siêu vi C. Trong khi đó, một nghiên cứu khác chứng minh chất lecithin có nhiều trong lòng đỏ trứng gà và đậu mè các loại chứa nhiều acid béo, omega 3 rất cần cho người bị bệnh viêm gan mạn tính kể cả viêm gan siêu vi A, B, C.
Axid béo và omega 3 từ thực vật hay từ cá đều tốt cho gan và làm chậm quá trình ung thư hóa gan. Do đó chất béo từ cá, trứng, đậu mè tốt cho gan. Điều cốt yếu là không dùng dư thừa. Chú ý nên chế biến thực phẩm theo lối kho, nấu, luộc, hấp chứ không nên rán.
- Đối với trứng: Có nhiều ý kiến khuyên kiêng trứng nhưng thực tế cho thấy lòng trắng trứng chứa nhiều methionin, eytein, eystin là các acid amin bảo vệ gan. Lòng đỏ trứng chứa nhiều chất béo nhưng chất béo này là phosphatidylcholin (lecithin) tốt cho gan. Trứng có chứa lượng sinh tố nhóm B, nếu 1 ngày ăn 1 lòng đỏ trứng gà đáp ứng 1/3 nhu cầu vitamin của cơ thể. Như vậy trừ những người bị dị ứng với trứng, người bệnh viêm gan có thể cách ngày ăn một quả trứng luộc.
- Vitamin và khoáng chất: Các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho gan. Mỗi ngày cần bảo đảm đủ rau quả tươi (rau xanh 200g + củ quả non 1.000g + quả chín tươi 200g). Trường hợp người già yếu không thể ăn đủ sinh tố qua rau quả thì có thể uống thêm mỗi ngày 1 viên đa sinh tố B complex hoặc viên đa sinh tố khoáng chất.
Những thứ người bệnh gan nên tránh: Các thức uống có chất cồn (rượu, bia...), thuốc lá, tránh ăn thực phẩm ôi thiu, nhiễm hóa chất, tránh lao động quá sức.
Người bệnh gan cần chú ý ăn uống hợp lý, không được ăn dư thừa hoặc đưa các chất độc hại vào cơ thể. Nguyên tắc ăn uống hằng ngày là chọn thức ăn dễ tiêu và không kiêng quá mức sẽ dẫn đến suy kiệt cơ thể.

Xem thêm: cách điều trị viêm gan B| dieu tri gan nhiem mo| gan nhiem mo| gan nhiễm mỡ| benh viem gan A