Các chuyên gia ở Đại học Montreal, Canada vừa kết thúc một nghiên cứu, kết quả công bố trên Tạp chí Virology của Mỹ số ra đầu tháng 8/2008 cho biết, đối với bệnh gan C, việc điều trị càng sớm càng có hiệu quả cao, nhất là ngay sau khi bị nhiễm virut, hệ thống miễn dịch của cơ thể còn khỏe.
Để có kết luận này, nhóm đề tài đã kiểm chứng hai nhóm sử dụng thuốc, một ở thể nặng và nhóm chớm mắc bệnh, hay nói cách khác là vừa bị phơi nhiễm virut Hepatitis C virut hay HCV. Kết quả, nhóm chớm mắc bệnh nếu điều trị ngay thì sự hưởng ứng miễn dịch đa năng được nhận biết rất rõ bằng quá trình sản xuất liên tục chất kháng virut, làm tăng cường sức đề kháng cho cơ thể chống lại HCV hiệu quả hơn và cũng qua phát hiện này sẽ giúp cho con người sản xuất được những loại thuốc, phương pháp điều trị mới để giảm trừ bệnh viêm gan C. HCV thường lan truyền qua con đường máu và có tới 1/4 bệnh nhân không được điều trị dẫn đến viêm, xơ và ung thư gan. Hiện nay có loại thuốc mang tên pegylated interferon alpha (PIA) được dùng cho bệnh nhân viêm gan C mạn tính chỉ có tác dụng với mức 50% nhưng nếu dùng cho nhóm mới mắc bệnh, điều trị sớm thì kết quả đạt tới trên 90%.
Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013
Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013
Men gan bình thường có phải viêm gan B đã khỏi
Em chào bác sĩ,Cách đây 6 năm em phát hiện mình bị viem gan b (HBsAg(+), HBeAg(+)) và em đã điều trị bằng thuốc Andefovin được 2 năm thì BS nói men gan của em vẫn cao và bảo nên chuyển sang dùng thuốc khác. Nhưng do điều kiện khó khăn em dừng không điều trị nữa.Khoảng 2 năm sau em có khám sức khỏe, kết quả là em không bị viêm gan b. Năm ngoái em có đi kiểm tra thì men gan bình thường. Vậy có phải là bệnh gan của em đã khỏi rồi không thưa BS hay là nó đang chuyển sang giai đoạn khác nên xét nghiệm bình thường không phát hiện ra?(Trang Đỗ - trang...@gmail.com)
BS-CK1 Hoàng Bích Hồng:
Em Trang thân mến, Trong một số trường hợp nhiễm siêu vi, do sức đề kháng của cơ thể tốt nên có thể khỏi bệnh. Riêng trường hợp của em dùng thuốc mà men gan vẫn cao và virus còn sinh sản, nên khả năng tự khỏi bệnh cũng thấp.
Men gan trở về bình thường là một dấu hiệu tốt nhưng không có nghĩa là virus đã được loại trừ hết khỏi cơ thể. Em cần được khám và thử lại các xét nghiệm về miễn dịch của bệnh gan B để xác định thêm em nhé!
BS-CK1 Hoàng Bích Hồng:
Em Trang thân mến, Trong một số trường hợp nhiễm siêu vi, do sức đề kháng của cơ thể tốt nên có thể khỏi bệnh. Riêng trường hợp của em dùng thuốc mà men gan vẫn cao và virus còn sinh sản, nên khả năng tự khỏi bệnh cũng thấp.
Men gan trở về bình thường là một dấu hiệu tốt nhưng không có nghĩa là virus đã được loại trừ hết khỏi cơ thể. Em cần được khám và thử lại các xét nghiệm về miễn dịch của bệnh gan B để xác định thêm em nhé!
Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013
Dễ bị xơ gan nếu gan nhiễm mỡ
Đối với những người bị béo phì nguy cơ bị các bệnh về tim mạch và bệnh gan nhiễm mỡ rất cao. Với những người sử dụng nhiều chất béo và đường thường xuyên uống rượu bia và có thói quen lười vận động thì nguy cơ bị gan nhiễm mỡ cao hơn rất nhiều lần so với những người thường.
Một khảo sát tại Mỹ công bố trong năm 2002 cho thấy có đến 5% dân số nước này bị gan nhiễm mỡ không do rượu, và riêng trong nhóm người béo phì và tiểu đường týp 2 thì con số này tăng lên từ 25%-75%!
Nếu kể thêm dạng gan nhiễm mỡ do rượu thì con số trên còn tăng cao đến chừng nào. Vì thế trong một tài liệu đào tạo sau đại học của Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Hoa Kỳ, người ta đã dành hẳn một chương cho gan nhiễm mỡ với tiêu đề: gan nhiễm mỡ - Bệnh gan của thiên niên kỷ mới!
Gan nhiễm mỡ hầu như không có triệu chứng
Tại VN, chưa có một thống kê nào về gan nhiễm mỡ trong cộng đồng, nhưng một ghi nhận nhỏ tại Khoa Siêu âm Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy TPHCM cho thấy số người bị gan nhiễm mỡ được phát hiện hằng ngày tại đây vào khoảng 10%! Th.S - BS Đinh Dạ Lý Hương, giảng viên Đại học Y Dược TPHCM, cho biết gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong các tế bào gan, làm trọng lượng gan tăng lên khoảng 5%.
Nguyên nhân thường làm gan nhiễm mỡ là tình trạng béo phì, ngoài ra là nghiện rượu, tiểu đường týp 2, bệnh tăng mỡ trong máu, nhiễm chất đồng, bệnh lao và đặc biệt là viêm gan siêu vi C mãn tính. Ngoài ra, việc dùng liều cao và kéo dài một số thuốc như corticoides, tétracycline, estrogen, thuốc chữa ung thư cũng làm rối loạn biến đổi mỡ trong gan, khiến gan bị nhiễm mỡ.
Gan bình thường và gan nhiễm mỡ
Người bị gan nhiễm mỡ hầu như không có triệu chứng gì, chỉ có một vài bệnh nhân cảm thấy hơi mệt mỏi và suy nhược, hoặc có cảm giác hơi tưng tức ở vùng dưới sườn bên phải. Do vậy, gan nhiễm mỡ thường được phát hiện một cách tình cờ, sau một xét nghiệm máu thường quy thấy men gan (SGOT, SGPT) tăng, hoặc sau khi được siêu âm.
Tại sao mỡ đọng lại trong gan?
Theo BS Đinh Dạ Lý Hương, có thể là do ruột gia tăng hấp thu chất mỡ, nhất là khi ăn quá nhiều chất béo động vật; do chất mỡ từ mô mỡ ở những nơi khác trong cơ thể được huy động bất thường đến gan; do ăn nhiều đường, khi chuyển đến gan một phần đường được gan cất dưới dạng glycogen, một phần khác được biết đổi thành mỡ; do tăng tổng hợp chất mỡ tại gan hoặc giảm sự chuyển tải chất mỡ ra khỏi gan vì thiếu một số chất để chuyên chở mỡ.
Nên siêu âm tầm soát và dieu tri gan nhiem mo bệnh 3 tháng/lần
TS-BS Lê Thành Lý, Trưởng Khoa Nội Tiêu hóa - Gan mật BV Chợ Rẫy, cho biết đối với những người bị gan nhiễm mỡ do uống nhiều rượu trong một thời gian dài thì ngoài việc gây ra gan nhiễm mỡ, rượu còn gây ra viêm gan hoặc xơ gan. Đáng chú ý là ở những người này, gan nhiễm mỡ sẽ hồi phục khá “ngoạn mục” nếu ngưng uống rượu. Còn đối với người bị gan nhiễm mỡ không do rượu, sự có mặt của mỡ quá nhiều trong gan cũng dễ dẫn đến viêm gan. Người ta gọi đó là viêm gan do mỡ ở người không uống rượu. Một khảo sát tại Mỹ cho thấy người bị gan nhiễm mỡ không kèm viêm gan thường có một giai đoạn lâm sàng lành tính từ 10-15 năm. Ngược lại, khoảng 25% người viêm gan do mỡ sẽ tiến triển đến xơ gan trong cùng thời gian đó.
BS Hoàng Thu Hương, Phó Khoa Siêu âm BV Chợ Rẫy TPHCM, cho biết nếu phát hiện bị gan nhiễm mỡ qua siêu âm, mọi người đừng hoang mang và lo lắng. Thái độ đúng nhất là đến một bác sĩ chuyên khoa gan mật để được làm thêm một số xét nghiệm máu và chẩn đoán chính xác, bởi siêu âm chỉ có giá trị gợi ý, vì kết quả có chính xác hay không còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của người làm siêu âm. Mặc khác, siêu âm cũng không thể cho biết mức độ tổn thương của gan khi đã bị nhiễm mỡ. Nhưng dù gì thì theo BS Thu Hương, đối với người VN, siêu âm cũng là một phương tiện tầm soát bệnh gan rẻ tiền, đơn giản, không đau đớn, không xâm lấn. Những người có nguy cơ gan nhiễm mỡ nên đi siêu âm để tầm soát bệnh, 3 tháng một lần là tốt nhất.
Một khảo sát tại Mỹ công bố trong năm 2002 cho thấy có đến 5% dân số nước này bị gan nhiễm mỡ không do rượu, và riêng trong nhóm người béo phì và tiểu đường týp 2 thì con số này tăng lên từ 25%-75%!
Nếu kể thêm dạng gan nhiễm mỡ do rượu thì con số trên còn tăng cao đến chừng nào. Vì thế trong một tài liệu đào tạo sau đại học của Hiệp hội Nghiên cứu bệnh gan Hoa Kỳ, người ta đã dành hẳn một chương cho gan nhiễm mỡ với tiêu đề: gan nhiễm mỡ - Bệnh gan của thiên niên kỷ mới!
Gan nhiễm mỡ hầu như không có triệu chứng
Tại VN, chưa có một thống kê nào về gan nhiễm mỡ trong cộng đồng, nhưng một ghi nhận nhỏ tại Khoa Siêu âm Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy TPHCM cho thấy số người bị gan nhiễm mỡ được phát hiện hằng ngày tại đây vào khoảng 10%! Th.S - BS Đinh Dạ Lý Hương, giảng viên Đại học Y Dược TPHCM, cho biết gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong các tế bào gan, làm trọng lượng gan tăng lên khoảng 5%.
Nguyên nhân thường làm gan nhiễm mỡ là tình trạng béo phì, ngoài ra là nghiện rượu, tiểu đường týp 2, bệnh tăng mỡ trong máu, nhiễm chất đồng, bệnh lao và đặc biệt là viêm gan siêu vi C mãn tính. Ngoài ra, việc dùng liều cao và kéo dài một số thuốc như corticoides, tétracycline, estrogen, thuốc chữa ung thư cũng làm rối loạn biến đổi mỡ trong gan, khiến gan bị nhiễm mỡ.
Gan bình thường và gan nhiễm mỡ
Người bị gan nhiễm mỡ hầu như không có triệu chứng gì, chỉ có một vài bệnh nhân cảm thấy hơi mệt mỏi và suy nhược, hoặc có cảm giác hơi tưng tức ở vùng dưới sườn bên phải. Do vậy, gan nhiễm mỡ thường được phát hiện một cách tình cờ, sau một xét nghiệm máu thường quy thấy men gan (SGOT, SGPT) tăng, hoặc sau khi được siêu âm.
Tại sao mỡ đọng lại trong gan?
Theo BS Đinh Dạ Lý Hương, có thể là do ruột gia tăng hấp thu chất mỡ, nhất là khi ăn quá nhiều chất béo động vật; do chất mỡ từ mô mỡ ở những nơi khác trong cơ thể được huy động bất thường đến gan; do ăn nhiều đường, khi chuyển đến gan một phần đường được gan cất dưới dạng glycogen, một phần khác được biết đổi thành mỡ; do tăng tổng hợp chất mỡ tại gan hoặc giảm sự chuyển tải chất mỡ ra khỏi gan vì thiếu một số chất để chuyên chở mỡ.
Nên siêu âm tầm soát và dieu tri gan nhiem mo bệnh 3 tháng/lần
TS-BS Lê Thành Lý, Trưởng Khoa Nội Tiêu hóa - Gan mật BV Chợ Rẫy, cho biết đối với những người bị gan nhiễm mỡ do uống nhiều rượu trong một thời gian dài thì ngoài việc gây ra gan nhiễm mỡ, rượu còn gây ra viêm gan hoặc xơ gan. Đáng chú ý là ở những người này, gan nhiễm mỡ sẽ hồi phục khá “ngoạn mục” nếu ngưng uống rượu. Còn đối với người bị gan nhiễm mỡ không do rượu, sự có mặt của mỡ quá nhiều trong gan cũng dễ dẫn đến viêm gan. Người ta gọi đó là viêm gan do mỡ ở người không uống rượu. Một khảo sát tại Mỹ cho thấy người bị gan nhiễm mỡ không kèm viêm gan thường có một giai đoạn lâm sàng lành tính từ 10-15 năm. Ngược lại, khoảng 25% người viêm gan do mỡ sẽ tiến triển đến xơ gan trong cùng thời gian đó.
BS Hoàng Thu Hương, Phó Khoa Siêu âm BV Chợ Rẫy TPHCM, cho biết nếu phát hiện bị gan nhiễm mỡ qua siêu âm, mọi người đừng hoang mang và lo lắng. Thái độ đúng nhất là đến một bác sĩ chuyên khoa gan mật để được làm thêm một số xét nghiệm máu và chẩn đoán chính xác, bởi siêu âm chỉ có giá trị gợi ý, vì kết quả có chính xác hay không còn tùy thuộc vào kinh nghiệm của người làm siêu âm. Mặc khác, siêu âm cũng không thể cho biết mức độ tổn thương của gan khi đã bị nhiễm mỡ. Nhưng dù gì thì theo BS Thu Hương, đối với người VN, siêu âm cũng là một phương tiện tầm soát bệnh gan rẻ tiền, đơn giản, không đau đớn, không xâm lấn. Những người có nguy cơ gan nhiễm mỡ nên đi siêu âm để tầm soát bệnh, 3 tháng một lần là tốt nhất.
Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013
Mối liên quan giữa men gan và bệnh viêm gan N
Em chào bác sĩ,
Cách đây 6 năm em phát hiện mình bị bệnh viêm gan b (HBsAg(+), HBeAg(+)) và em đã điều trị bằng thuốc Andefovin được 2 năm thì BS nói men gan của em vẫn cao và bảo nên chuyển sang dùng thuốc khác. Nhưng do điều kiện khó khăn em dừng không điều trị nữa.
Khoảng 2 năm sau em có khám sức khỏe, kết quả là em không bị viêm gan b. Năm ngoái em có đi kiểm tra thì men gan bình thường. Vậy có phải là bệnh gan của em đã khỏi rồi không thưa BS hay là nó đang chuyển sang giai đoạn khác nên xét nghiệm bình thường không phát hiện ra?
(Trang Đỗ - trang...@gmail.com)
Em Trang thân mến,
Trong một số trường hợp nhiễm siêu vi viem gan B, do sức đề kháng của cơ thể tốt nên có thể khỏi bệnh. Riêng trường hợp của em dùng thuốc mà men gan vẫn cao và virus còn sinh sản, nên khả năng tự khỏi bệnh cũng thấp.
Men gan trở về bình thường là một dấu hiệu tốt nhưng không có nghĩa là virus đã được loại trừ hết khỏi cơ thể. Em cần được khám và thử lại các xét nghiệm về miễn dịch của viêm gan B để xác định thêm em nhé!
Thân mến chào em!
Cách đây 6 năm em phát hiện mình bị bệnh viêm gan b (HBsAg(+), HBeAg(+)) và em đã điều trị bằng thuốc Andefovin được 2 năm thì BS nói men gan của em vẫn cao và bảo nên chuyển sang dùng thuốc khác. Nhưng do điều kiện khó khăn em dừng không điều trị nữa.
Khoảng 2 năm sau em có khám sức khỏe, kết quả là em không bị viêm gan b. Năm ngoái em có đi kiểm tra thì men gan bình thường. Vậy có phải là bệnh gan của em đã khỏi rồi không thưa BS hay là nó đang chuyển sang giai đoạn khác nên xét nghiệm bình thường không phát hiện ra?
(Trang Đỗ - trang...@gmail.com)
Em Trang thân mến,
Trong một số trường hợp nhiễm siêu vi viem gan B, do sức đề kháng của cơ thể tốt nên có thể khỏi bệnh. Riêng trường hợp của em dùng thuốc mà men gan vẫn cao và virus còn sinh sản, nên khả năng tự khỏi bệnh cũng thấp.
Men gan trở về bình thường là một dấu hiệu tốt nhưng không có nghĩa là virus đã được loại trừ hết khỏi cơ thể. Em cần được khám và thử lại các xét nghiệm về miễn dịch của viêm gan B để xác định thêm em nhé!
Thân mến chào em!
Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013
Bệnh viêm gan nhiễm trùng nghề nghiệp
Bệnh viêm gan virut B là một bệnh nhiễm trùng nghề nghiệp giống như lao, viêm gan C, HIV… Thực tế cho thấy các yếu tố nguy cơ có thể gây tổn thương da trong bệnh viện là rất nhiều: tiêm dưới da, mảnh thuỷ tinh, mũi khâu, kim bướm, mũi khoan, lấy máu... Khả năng nhiễm siêu vi B có thể lên đến 25% đối với nhóm cán bộ y tế bị thương do kim đâm, tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân có HBsAg dương tính.
Viêm gan virus (VGVR) là bệnh nhiễm trùng có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp. Đó là công nhận của Liên Bộ Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về căn bệnh này vì tỷ lệ mang kháng thể HBsAg nói chung của nhân viên y tế cao hơn gấp 3-5 lần so với người dân bình thường. Khoảng 17,6% nhân viên y tế có thể bị nhiễm virus gây ra bệnh viêm gan B. Với khả năng sống lâu nhiều tháng trong vết máu khô, virus viêm gan B có khả năng lây nhiễm gấp từ 50-100 lần so với HIV. Nhóm có nguy cơ cao bao gồm: nhân viên phòng xét nghiệm, nha sĩ, nhân viên làm công tác cấp cứu, nhân viên xử lý rác thải, nhân viên ướp xác, bộ đội, công an ... Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong tổng số 35 triệu nhân viên y tế trên thế giới, mỗi năm, 2 triệu người tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm. Trong đó, khoảng 40% bị phơi nhiễm viêm gan B, 40% phơi nhiễm viêm gan C, 2,5% phơi nhiễm HIV do tổn thương vì kim đâm.
Nhóm người thường xuyên phải tiếp xúc do tính chất nghề nghiệp với người bệnh VGVR bệnh phẩm máu và các vật phẩm ô nhiễm … mắc các hội chứng:
Viêm gan là một bệnh nhiễm trùng do virus xâm nhập vào gan và có thể gây ra bệnh viêm gan cấp tính và mạn tính. Virus được lây truyền thông qua việc tiếp xúc với máu hoặc chất dịch của cơ thể người bị bệnh và không qua tiếp xúc thông thường. Bệnh gây nguy cơ tử vong cao do xơ gan và ung thư gan.
Đường truyền bệnh
Virus viêm gan B được truyền từ người này sang người khác qua vết thương, tổn thương da có tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể (tinh dịch và dịch tiết âm đạo) của người mắc bệnh. Phương thức lây truyền là giống phương thức lây truyền đối với virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) nhưng HBV có khả năng lây nhiễm cao hơn từ 50 đến 100 lần. Không giống như HIV, HBV có thể tồn tại bên ngoài cơ thể ít nhất tới 7 ngày. Trong thời gian đó, virus vẫn có thể gây nhiễm trùng nếu nó xâm nhập vào cơ thể của một người chưa bị mắc bệnh. Phương thức thông thường của đường truyền nhiễm ở các nước đang phát triển là: chu sinh (từ mẹ sang con lúc sinh); nhiễm virus ở trẻ em sớm (nhiễm virus không rõ ràng qua tiếp xúc thân mật cá nhân với các tiếp xúc với gia đình người mắc bệnh); qua thực hành tiêm không an toàn; qua truyền máu; qua quan hệ tình dục, HBV không lây truyền qua thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm và không lây truyền một cách ngẫu nhiên tại nơi làm việc. Thời kỳ ủ bệnh của virus trung bình là 90 ngày, nhưng có thể thay đổi trong khoảng 30 đến 180 ngày. HBV có thể được xác định từ 30 đến 60 ngày sau khi nhiễm và có thể với thời kỳ lâu hơn.
Biểu hiện của bệnh
Virus bệnh viêm gan B có thể gây ra bệnh cấp tính với các hội chứng kéo dài khoảng vài tuần bao gồm vàng da và mắt (bệnh vàng da), nước tiểu đậm màu, suy kiệt, buồn nôn, nôn mửa và đau bụng. Mọi người có thể phải mất vài tháng đến một năm mới khỏi các hội chứng này. HBV cũng có thể gây một nhiễm trùng gan mạn tính và sau này có thể phát triển thành xơ gan hoặc ung thư gan. Khoảng 90% người lớn khỏe mạnh bị nhiễm HBV sẽ hồi phục và hoàn toàn loại bỏ virus trong vòng sáu tháng. HBV là một nguy hại nghề nghiệp nhiễm trùng chính đối với nhân viên y tế.
Điều trị và phòng bệnh
Không có điều trị đặc hiệu với bệnh viêm gan B cấp tính. Việc chăm sóc nhằm duy trì sự thoải mái và cân bằng về dinh dưỡng đầy đủ, bao gồm bù lượng dịch bị mất qua nôn mửa và tiêu chảy. Viêm gan B mạn tính có thể được điều trị bằng thuốc, bao gồm sử dụng interferon và các thuốc kháng virus có thể giúp cho một số bệnh nhân. Tuy nhiên chi phí cho điều trị là rất cao và khả năng đáp ứng của thuốc còn hạn chế. Ung thư gan hầu như luôn gây tử vong và nó thường phát triển ở những người ở độ tuổi khi họ đang là lao động chính có nhiều trách nhiệm với gia đình và xã hội. Ở các nước đang phát triển, hầu hết người mắc bệnh ung thư gan tử vong trong vòng vài tháng khi có chẩn đoán.
Tại các nước có thu nhập cao hơn việc phẫu thuật và hóa trị liệu có thể kéo dài cuộc sống của một số bệnh nhân đến một vài năm. Bệnh nhân bị xơ gan đôi khi được ghép gan với thành công khác nhau. Tiêm chủng đầy đủ tạo ra mức kháng thể bảo vệ trên 95% ở trẻ sơ sinh, trẻ em và người trẻ tuổi. Đối với người trên tuổi 40 thì các liều tiêm chủng ban đầu giảm xuống dưới 90%. Ở tuổi 60 tuổi, mức kháng thể bảo vệ đạt được chỉ từ 65% đến 75% trong số những người được tiêm chủng. Kháng thể bảo vệ kéo dài ít nhất 20 năm và bảo vệ suốt đời.
Tất cả trẻ em và thanh niên, thiếu niên dưới 18 tuổi và trước đây không được tiêm phòng thì nên được tiêm phòng. Những người trong nhóm nguy cơ cao cũng nên được tiêm phòng, bao gồm: những người có hành vi tình dục có nguy cơ cao; Bạn tình và tiếp xúc trong gia đình của người bị nhiễm HBV; tiêm chích ma túy; những người thường xuyên cần tiếp máu hoặc các sản phẩm máu; người nhận ghép tạng đặc; những người có nguy cơ nghề nghiệp với lây nhiễm HBV, bao gồm nhân viên y tế; và du khách quốc tế đến các nước có tỷ lệ HBV cao.
Viêm gan virus (VGVR) là bệnh nhiễm trùng có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp. Đó là công nhận của Liên Bộ Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về căn bệnh này vì tỷ lệ mang kháng thể HBsAg nói chung của nhân viên y tế cao hơn gấp 3-5 lần so với người dân bình thường. Khoảng 17,6% nhân viên y tế có thể bị nhiễm virus gây ra bệnh viêm gan B. Với khả năng sống lâu nhiều tháng trong vết máu khô, virus viêm gan B có khả năng lây nhiễm gấp từ 50-100 lần so với HIV. Nhóm có nguy cơ cao bao gồm: nhân viên phòng xét nghiệm, nha sĩ, nhân viên làm công tác cấp cứu, nhân viên xử lý rác thải, nhân viên ướp xác, bộ đội, công an ... Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong tổng số 35 triệu nhân viên y tế trên thế giới, mỗi năm, 2 triệu người tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm. Trong đó, khoảng 40% bị phơi nhiễm viêm gan B, 40% phơi nhiễm viêm gan C, 2,5% phơi nhiễm HIV do tổn thương vì kim đâm.
Nhóm người thường xuyên phải tiếp xúc do tính chất nghề nghiệp với người bệnh VGVR bệnh phẩm máu và các vật phẩm ô nhiễm … mắc các hội chứng:
Viêm gan là một bệnh nhiễm trùng do virus xâm nhập vào gan và có thể gây ra bệnh viêm gan cấp tính và mạn tính. Virus được lây truyền thông qua việc tiếp xúc với máu hoặc chất dịch của cơ thể người bị bệnh và không qua tiếp xúc thông thường. Bệnh gây nguy cơ tử vong cao do xơ gan và ung thư gan.
Đường truyền bệnh
Virus viêm gan B được truyền từ người này sang người khác qua vết thương, tổn thương da có tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể (tinh dịch và dịch tiết âm đạo) của người mắc bệnh. Phương thức lây truyền là giống phương thức lây truyền đối với virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) nhưng HBV có khả năng lây nhiễm cao hơn từ 50 đến 100 lần. Không giống như HIV, HBV có thể tồn tại bên ngoài cơ thể ít nhất tới 7 ngày. Trong thời gian đó, virus vẫn có thể gây nhiễm trùng nếu nó xâm nhập vào cơ thể của một người chưa bị mắc bệnh. Phương thức thông thường của đường truyền nhiễm ở các nước đang phát triển là: chu sinh (từ mẹ sang con lúc sinh); nhiễm virus ở trẻ em sớm (nhiễm virus không rõ ràng qua tiếp xúc thân mật cá nhân với các tiếp xúc với gia đình người mắc bệnh); qua thực hành tiêm không an toàn; qua truyền máu; qua quan hệ tình dục, HBV không lây truyền qua thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm và không lây truyền một cách ngẫu nhiên tại nơi làm việc. Thời kỳ ủ bệnh của virus trung bình là 90 ngày, nhưng có thể thay đổi trong khoảng 30 đến 180 ngày. HBV có thể được xác định từ 30 đến 60 ngày sau khi nhiễm và có thể với thời kỳ lâu hơn.
Biểu hiện của bệnh
Virus bệnh viêm gan B có thể gây ra bệnh cấp tính với các hội chứng kéo dài khoảng vài tuần bao gồm vàng da và mắt (bệnh vàng da), nước tiểu đậm màu, suy kiệt, buồn nôn, nôn mửa và đau bụng. Mọi người có thể phải mất vài tháng đến một năm mới khỏi các hội chứng này. HBV cũng có thể gây một nhiễm trùng gan mạn tính và sau này có thể phát triển thành xơ gan hoặc ung thư gan. Khoảng 90% người lớn khỏe mạnh bị nhiễm HBV sẽ hồi phục và hoàn toàn loại bỏ virus trong vòng sáu tháng. HBV là một nguy hại nghề nghiệp nhiễm trùng chính đối với nhân viên y tế.
Điều trị và phòng bệnh
Không có điều trị đặc hiệu với bệnh viêm gan B cấp tính. Việc chăm sóc nhằm duy trì sự thoải mái và cân bằng về dinh dưỡng đầy đủ, bao gồm bù lượng dịch bị mất qua nôn mửa và tiêu chảy. Viêm gan B mạn tính có thể được điều trị bằng thuốc, bao gồm sử dụng interferon và các thuốc kháng virus có thể giúp cho một số bệnh nhân. Tuy nhiên chi phí cho điều trị là rất cao và khả năng đáp ứng của thuốc còn hạn chế. Ung thư gan hầu như luôn gây tử vong và nó thường phát triển ở những người ở độ tuổi khi họ đang là lao động chính có nhiều trách nhiệm với gia đình và xã hội. Ở các nước đang phát triển, hầu hết người mắc bệnh ung thư gan tử vong trong vòng vài tháng khi có chẩn đoán.
Tại các nước có thu nhập cao hơn việc phẫu thuật và hóa trị liệu có thể kéo dài cuộc sống của một số bệnh nhân đến một vài năm. Bệnh nhân bị xơ gan đôi khi được ghép gan với thành công khác nhau. Tiêm chủng đầy đủ tạo ra mức kháng thể bảo vệ trên 95% ở trẻ sơ sinh, trẻ em và người trẻ tuổi. Đối với người trên tuổi 40 thì các liều tiêm chủng ban đầu giảm xuống dưới 90%. Ở tuổi 60 tuổi, mức kháng thể bảo vệ đạt được chỉ từ 65% đến 75% trong số những người được tiêm chủng. Kháng thể bảo vệ kéo dài ít nhất 20 năm và bảo vệ suốt đời.
Tất cả trẻ em và thanh niên, thiếu niên dưới 18 tuổi và trước đây không được tiêm phòng thì nên được tiêm phòng. Những người trong nhóm nguy cơ cao cũng nên được tiêm phòng, bao gồm: những người có hành vi tình dục có nguy cơ cao; Bạn tình và tiếp xúc trong gia đình của người bị nhiễm HBV; tiêm chích ma túy; những người thường xuyên cần tiếp máu hoặc các sản phẩm máu; người nhận ghép tạng đặc; những người có nguy cơ nghề nghiệp với lây nhiễm HBV, bao gồm nhân viên y tế; và du khách quốc tế đến các nước có tỷ lệ HBV cao.
Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013
Thêm nhiều vũ khí mới chữa bệnh ung thư
Thuốc mới PARP
Nhược điểm của các loại thuốc chua benh ung thu hiện có là khả năng phong bế ba yếu tố gây bệnh còn kém, gồm hormon estrogen, progesteron và HER2. Để khắc phục nhược điểm này, tới đây người ta sẽ cho ra đời loại thuốc mới có tên là chất ức chế PARP. Qua nghiên cứu lâm sàng ở nhóm người mắc bệnh giai đoạn cao cho thấy nếu dùng PARP kết hợp với liệu pháp chemo sẽ làm tăng thời gian sống cho bệnh nhân tới trên 50%. Hiện nay loại thuốc này đang được thử nghiệm lâm sàng lần cuối về mức độ an toàn trước khi đưa vào sử dụng.
Ra đời phương pháp chẩn đoán mới
Từ trước tới nay việc chẩn đoán nguy cơ ung thư vú thường dựa vào các yếu tố truyền thống như tiền sử gia đình, tuổi tác, hôn nhân nhưng mới đây các chuyên gia ở Viện nghiên cứu y học Pacific ở California (Mỹ) đã tìm ra phương pháp chẩn đoán bệnh mới, đó là phân tích mật độ mô vú và nhờ kỹ thuật digital mamogram (chụp hình số), bác sĩ có thể biết được nhanh và chính xác rủi ro mắc bệnh, nhất là nhóm phụ nữ sau mãn kinh.
Phương pháp sinh thiết mô cho nhóm ung thư vú tái phát
Lâu nay, khi ung thư vú tái phát người ta thường áp dụng phương pháp chua benh ung thu truyền thống nhưng theo các chuyên gia ở Bệnh viện Princess Margaret (PMH) Canada thì phương pháp trị bệnh truyền thống còn mắc nhiều nhược điểm và để khắc phục, PMH đã áp dụng phương pháp sinh thiết mới, cho kết quả tốt, giúp việc điều trị sau đó mang lại kết quả cao. Qua thử nghiệm ở 29 bệnh nhân ung thư vú di căn bằng kỹ thuật sinh thiết mới cho thấy có tới 40% có khối u thay đổi, 20% cần phải chuyển sang sử dụng liệu pháp điều trị mới. Với kết quả trên, các chuyên gia ở PMH khuyến cáo khi bệnh tái phát nên đi thử sinh thiết để có phương pháp điều trị thích hợp, nếu dùng phương pháp cũ sẽ không hiệu quả.
Đã đến lúc cần xem lại việc kê đơn cho bệnh nhân ung thư vú
Đến nay rất nhiều bệnh nhân nữ được kê đơn dùng tamoxifen để ngăn chặn tình trạng tái phát kèm việc dùng một loại thuốc chống trầm cảm. Qua nghiên cứu giới chuyên môn phát hiện thấy các loại thuốc cải thiện tâm tính con người lại làm giảm tác dụng của tamoxifen. Cụ thể, thuốc chống trầm cảm đã gây cản trở một loại enzym thực hiện chức năng vô cùng quan trọng của tamoxifen. Trong nghiên cứu trên, người ta phát hiện thấy những người bị tái phát nếu dùng tamoxifen kết hợp với prozac paxil hoặc zoloft thì mức độ tái phát là 15% so với 7,5% của người chỉ dùng tamoxifen. Riêng một số loại thuốc như Celexa, Lexapro và Luvox lại không làm tăng rủi ro này, vì vậy có khuyến cáo khi đã kê đơn dùng tamoxifen thì không nên dùng thêm các loại thuốc về thần kinh nữa.
Dùng thuốc chữa đau nửa đầu giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú
Theo một nghiên cứu ở trên 9.000 phụ nữ do các nhà khoa học Mỹ thực hiện đã phát hiện thấy những người dùng thuốc chữa đau nửa đầu có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú tới 26%. Đây là điều người ta chưa ngờ tới về tác dụng của nhóm thuốc này, tuy nhiên đây mới là nghiên cứu sơ bộ cần phải có nhiều nghiên cứu chuyên sâu mới có thể kết luận chính xác.
Nhược điểm của các loại thuốc chua benh ung thu hiện có là khả năng phong bế ba yếu tố gây bệnh còn kém, gồm hormon estrogen, progesteron và HER2. Để khắc phục nhược điểm này, tới đây người ta sẽ cho ra đời loại thuốc mới có tên là chất ức chế PARP. Qua nghiên cứu lâm sàng ở nhóm người mắc bệnh giai đoạn cao cho thấy nếu dùng PARP kết hợp với liệu pháp chemo sẽ làm tăng thời gian sống cho bệnh nhân tới trên 50%. Hiện nay loại thuốc này đang được thử nghiệm lâm sàng lần cuối về mức độ an toàn trước khi đưa vào sử dụng.
Ra đời phương pháp chẩn đoán mới
Từ trước tới nay việc chẩn đoán nguy cơ ung thư vú thường dựa vào các yếu tố truyền thống như tiền sử gia đình, tuổi tác, hôn nhân nhưng mới đây các chuyên gia ở Viện nghiên cứu y học Pacific ở California (Mỹ) đã tìm ra phương pháp chẩn đoán bệnh mới, đó là phân tích mật độ mô vú và nhờ kỹ thuật digital mamogram (chụp hình số), bác sĩ có thể biết được nhanh và chính xác rủi ro mắc bệnh, nhất là nhóm phụ nữ sau mãn kinh.
Phương pháp sinh thiết mô cho nhóm ung thư vú tái phát
Lâu nay, khi ung thư vú tái phát người ta thường áp dụng phương pháp chua benh ung thu truyền thống nhưng theo các chuyên gia ở Bệnh viện Princess Margaret (PMH) Canada thì phương pháp trị bệnh truyền thống còn mắc nhiều nhược điểm và để khắc phục, PMH đã áp dụng phương pháp sinh thiết mới, cho kết quả tốt, giúp việc điều trị sau đó mang lại kết quả cao. Qua thử nghiệm ở 29 bệnh nhân ung thư vú di căn bằng kỹ thuật sinh thiết mới cho thấy có tới 40% có khối u thay đổi, 20% cần phải chuyển sang sử dụng liệu pháp điều trị mới. Với kết quả trên, các chuyên gia ở PMH khuyến cáo khi bệnh tái phát nên đi thử sinh thiết để có phương pháp điều trị thích hợp, nếu dùng phương pháp cũ sẽ không hiệu quả.
Đã đến lúc cần xem lại việc kê đơn cho bệnh nhân ung thư vú
Đến nay rất nhiều bệnh nhân nữ được kê đơn dùng tamoxifen để ngăn chặn tình trạng tái phát kèm việc dùng một loại thuốc chống trầm cảm. Qua nghiên cứu giới chuyên môn phát hiện thấy các loại thuốc cải thiện tâm tính con người lại làm giảm tác dụng của tamoxifen. Cụ thể, thuốc chống trầm cảm đã gây cản trở một loại enzym thực hiện chức năng vô cùng quan trọng của tamoxifen. Trong nghiên cứu trên, người ta phát hiện thấy những người bị tái phát nếu dùng tamoxifen kết hợp với prozac paxil hoặc zoloft thì mức độ tái phát là 15% so với 7,5% của người chỉ dùng tamoxifen. Riêng một số loại thuốc như Celexa, Lexapro và Luvox lại không làm tăng rủi ro này, vì vậy có khuyến cáo khi đã kê đơn dùng tamoxifen thì không nên dùng thêm các loại thuốc về thần kinh nữa.
Dùng thuốc chữa đau nửa đầu giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú
Theo một nghiên cứu ở trên 9.000 phụ nữ do các nhà khoa học Mỹ thực hiện đã phát hiện thấy những người dùng thuốc chữa đau nửa đầu có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú tới 26%. Đây là điều người ta chưa ngờ tới về tác dụng của nhóm thuốc này, tuy nhiên đây mới là nghiên cứu sơ bộ cần phải có nhiều nghiên cứu chuyên sâu mới có thể kết luận chính xác.
Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013
Chữa bệnh ung thư theo hướng mới
Kết luận của hai nghiên cứu mới nhất công bố ngày 2/5 trên Tạp chí Y học New Zealand (New England Journal of Medicine) và báo Tự nhiên (Nature) có thể mở ra một hướng điều trị mới cho các bệnh nhân mắc căn bệnh hiểm nghèo này.
Theo kết quả của hai nghiên cứu trên, một số bệnh ung thư nguy hiểm có cấu trúc gen giống nhau bất kể khối u ác tính nằm ở bộ phận nào trên cơ thể.
Sau khi tiến hành phân tích mã gen trên 10.000 khối u ở các bệnh nhân mắc 20 bệnh ung thư khác, các nhà khoa học đã tìm thấy một sự tương đồng về cấu trúc gen giữa một số dạng ung thư vú, ung thư phổi và ung thư ruột kết. Ví dụ như ung thư buồng trứng và ung thư vú đều có chung một dạng biến đổi gen.
Đặc biệt, các nhà nghiên cứu đã xác định được một dạng biến đổi gen nhất định có tần suất xuất hiện trong các khối u ở dạ con cao hơn so với các dạng ung thư khác.
Nhờ vào nghiên cứu này mà loại thuốc được sử dụng cho việc chua benh ung thu đối với biến thể trên có thể dùng để điều trị ung thư tử cung, căn bệnh được chẩn đoán trên 50.000 người và khiến 8.000 phụ nữ tại Mỹ tử vong mỗi năm.
Các nhà khoa học cũng tiến hành nghiên cứu về bệnh ung thư máu cấp tính, căn bệnh được chẩn đoán trên 14.000 người và là nguyên nhân gây tử vong ở 10.000 người tại Mỹ mỗi năm, nhằm tìm ra biến thể gen tiêu biểu.
Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân đã phát hiện thấy 260 biến thể gen liên quan đến ung thư máu. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định được biến thể xuất hiện trong các ca cấp tính.
Các công trình nghiên cứu này thuộc dự án "Kế hoạch Bản đồ gen ung thư" của Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ, đã ủng hộ xu hướng phân loại khối u theo cấu trúc gen thay vì dựa vào vị trí xuất hiện trên cơ thể.
Kết quả nghiên cứu mới được hy vọng sẽ mở ra hướng đi mới hiệu quả hơn trong việc chẩn đoán và điều trị các căn bệnh ung thư
Theo kết quả của hai nghiên cứu trên, một số bệnh ung thư nguy hiểm có cấu trúc gen giống nhau bất kể khối u ác tính nằm ở bộ phận nào trên cơ thể.
Sau khi tiến hành phân tích mã gen trên 10.000 khối u ở các bệnh nhân mắc 20 bệnh ung thư khác, các nhà khoa học đã tìm thấy một sự tương đồng về cấu trúc gen giữa một số dạng ung thư vú, ung thư phổi và ung thư ruột kết. Ví dụ như ung thư buồng trứng và ung thư vú đều có chung một dạng biến đổi gen.
Đặc biệt, các nhà nghiên cứu đã xác định được một dạng biến đổi gen nhất định có tần suất xuất hiện trong các khối u ở dạ con cao hơn so với các dạng ung thư khác.
Nhờ vào nghiên cứu này mà loại thuốc được sử dụng cho việc chua benh ung thu đối với biến thể trên có thể dùng để điều trị ung thư tử cung, căn bệnh được chẩn đoán trên 50.000 người và khiến 8.000 phụ nữ tại Mỹ tử vong mỗi năm.
Các nhà khoa học cũng tiến hành nghiên cứu về bệnh ung thư máu cấp tính, căn bệnh được chẩn đoán trên 14.000 người và là nguyên nhân gây tử vong ở 10.000 người tại Mỹ mỗi năm, nhằm tìm ra biến thể gen tiêu biểu.
Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân đã phát hiện thấy 260 biến thể gen liên quan đến ung thư máu. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định được biến thể xuất hiện trong các ca cấp tính.
Các công trình nghiên cứu này thuộc dự án "Kế hoạch Bản đồ gen ung thư" của Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ, đã ủng hộ xu hướng phân loại khối u theo cấu trúc gen thay vì dựa vào vị trí xuất hiện trên cơ thể.
Kết quả nghiên cứu mới được hy vọng sẽ mở ra hướng đi mới hiệu quả hơn trong việc chẩn đoán và điều trị các căn bệnh ung thư
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


